Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Cách sử dụng lệnh Netstat

Thực hiện lệnh netstat trên môi trường DOS
netstat -a: Hiển thị tất cả các kết nối và các cổng nghe
Cú pháp
netstat -a


* netstat -b: Hiển thị thực thi liên quan đến việc tạo ra mỗi kết nối hay lắng nghe cổng
Cú pháp
netstat -b

netstat -e: Hiển thị Ethernet thống kê. Điều này có thể được kết hợp với các tùy chọn-s
Cú pháp
netstat -e

* netstat -f: Hiển thị Fully Qualified Tên miền (FQDN) cho các địa chỉ nước ngoài
Cú pháp
netstat -f

* netstat -n: Hiển thị các địa chỉ và số cổng trong số từ
Cú pháp
netstat -n

* netstat -o: Hiển thị quá trình ID sở hữu liên kết với mỗi kết nối.( Tham số này có thể được kết hợp với các tham số -a,-n,-p)
Cú pháp
netstat -o

* netstat -p: Hiển thị các kết nối cho giao thức theo quy định của proto proto có thể là bất kỳ: TCP, UDP, TCP v6 hoặc UDPv6. (Nếu tham số này được sử dụng với-s để hiển thị các số liệu thống kê bởi giao thức, Nghị định thư có thể được tcp, udp, icmp, ip, tcpv6, udpv6, ICMPv6, hoặc ipv6)
Cú pháp
netstat -proto
* netstat -r: Hiển thị bảng định tuyến
Cú pháp
netstat -proto
* netstat -s: Hiển thị số liệu thống kê cho mỗi giao thức. Theo mặc định, các số liệu thống kê được hiển thị cho TCP, UDP và IP, tuỳ chọn-p có thể được sử dụng để chỉ định một tập hợp con của mặc định.
netstat – interval: Hiển thị lại lựa chọn số liệu thống kê, ngừng lại giây khoảng thời gian giữa mỗi màn hình. Nhấn phím Ctrl + C để ngăn chặn thống kê redisplaying. Nếu bỏ qua, netstat sẽ in thông tin cấu hình hiện tại một lần.
Một số ví dụ khi kết hợp lệnh:
– Để hiển thị cả số liệu thống kê Ethernet và các số liệu thống kê cho tất cả các giao thức, gõ lệnh sau:
netstat -e -s
– Để hiển thị các số liệu thống kê cho các giao thức TCP và UDP, gõ lệnh sau:
netstat -s -p tcp udp
– Để hiển thị các hoạt động kết nối TCP và quá trình ID mỗi 5 giây, gõ lệnh sau:
netstat -o 5
– Để hiển thị các hoạt động kết nối TCP và ID quá trình này bằng cách sử dụng hình thức số, gõ lệnh sau:
netstat -n -o
Giải thích tham số
Proto: Cho biết kế nối là TCP hay UDP
Local address: Địa chỉ IP của máy tính địa phương và số cổng được sử dụng. Tên của máy tính địa phương tương ứng với địa chỉ IP và tên của cảng được hiển thị trừ khi tham số -n được quy định cụ thể. Nếu cổng chưa được thành lập, số cổng phải được thể hiện như là một dấu sao (*).
Foreign address: Địa chỉ IP và số cổng của máy tính từ xa mà ổ cắm được kết nối. Các tên tương ứng với địa chỉ IP và cổng được hiển thị trừ khi tham số -n được quy định cụ thể. Nếu cổng chưa được thành lập, số cổng phải được thể hiện như là một dấu sao (*)
State: Cho biết trang thái cổng: Cho biết trạng thái của một kết nối TCP. Các trạng thái có thể là như sau:
• CLOSE_WAIT
• CLOSED
• ESTABLISHED
• FIN_WAIT_1
• FIN_WAIT_2
• LAST_ACK
• LISTEN
• SYN_RECEIVED
• SYN_SEND
• TIMED_WAIT
Trong lúc thực hiện lệnh, nếu muốn dừng tiến trình: nhấn tổ hợp phím: Ctrl + C

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

Cảnh báo mã độc tống tiền WannaCry, Cách phòng tránh

Việt Nam là một trong số các nước bị tấn công mã độc tống tiền WannaCry. Khi bị nhiễm thì máy của người dùng và máy chủ, toàn bộ dữ liệu sẽ bị mã hóa và đòi tiền chuộc để được cấp chìa khóa giải mã lấy lại dữ liệu. Đặc biệt nguy hiểm là khi 1 máy bị nhiễm thì sẽ lây lan ra các máy khác khi cùng mạng LAN, Wifi.


Lỗ hổng được hacker khai thác là các máy windows không được update, Người dùng và quản trị viên hệ -thống cần cập nhật bản vá.

1.       Update các bán vá cho các máy chủ Windows ( đặc biệt với Windows Server 2008 R2 ) , Windows 2012
2.       Gửi Email thông báo cho toàn bộ cán bộ nhân viên không click vào các đường link lạ, file đính kèm không rõ nguồn gốc
3.       Update windows cho các máy người dùng ( Win 7, 8 , 10 )
4.       Riêng với WinXP anh download patch dành riêng cho việc vá lỗ hỏng này từ Microsoft. Theo một trong các link sau.
-          Hoặc anh search:  từ khóa bản cập nhật KB4012598 
Hiện nay có các công cụ miễn phí có thể hỗ trợ người dùng quét kiểm tra máy tính bị nhiễm virus  WannaCry hoặc  có lỗ hõng cần update các bản vá lỗi
Tool KAS: http://ml.kaspersky.com/WI0k7HJym7m3NmW00Q27b00

Cung cấp phần mềm diệt virus Kaspersky giá mềm nhất (key 1PC; 3PC...) KAS or KIS

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Sử Dụng Crontab Trên CentOS


Có 2 dạng được sử dụng trong cấu hình Crontab:


Nếu tất cả đều là dấu * thì mỗi phút command sẽ được thực hiện 1 lần
Thứ tự là: phút, giờ, ngày của tháng, tháng, ngày của tuần

Các ví dụ nâng cao về Crontab:


0 0 * * * - chạy script vào 0 giờ 0 phút hàng ngày

0 1 23 * * - chạy script vào 1 giờ 0 phút, của ngày 23 hàng tháng

5 1 * * 1 - chạy script vào 1 giờ 5 phút vào các thứ 2

0 5 23 12 * - chạy script vào 0 giờ 5 phút ngày 23 tháng 12 hàng năm

0 * * * * – chạy script vào phút đầu tiên mỗi giờ

*/15 * * * * – chạy script mỗi lần 15 phút

5 8 * * * – chạy script mỗi ngày vào lúc 8 giờ 5 phút sáng

5 8 15 * * – chạy script mỗi 8 giờ 5 phút sáng ngày 15 hằng tháng

5 8 * * 1 – chạy script mỗi thứ 2 hàng tuần lúc 8 giờ 5 phút sáng

30 0 1 1,6,12 * - chạy script vào 0 giờ 30 phút sáng ngày 1 của tháng 1, tháng 6 và tháng 12

Share this page

Hướng dẫn xóa cache để tăng Free RAM cho VPS/Server

mỗi hệ điều hành Linux có một hệ thống quản lý hiệu quả bộ nhớ được sử dụng để xóa bộ nhớ cache bộ đệm theo định kỳ. Ta có thể tự giải phóng bộ nhớ cache bộ nhớ với lệnh đơn giản sau:
Lệnh xóa bộ nhớ đệm (RAM cache) trên Linux:
sudo sh -c "sync; echo 3 > /proc/sys/vm/drop_caches"

Nếu muốn Linux OS làm việc xoá bộ nhớ cache trên một khoảng thời gian cụ thể, chỉ cần tạo một cronjob để thực hiện điều này. Dưới đây là cách chúng ta thực hiện:
Tạo cacheclear.sh trong thư mục home
sudo vi /home/cacheclear.sh
- Thêm những dòng sau vào cacheclear.sh
#!/bin/sh
sudo sh -c "sync; echo 3 > /proc/sys/vm/drop_caches"

Lưu file:
- Tiếp theo add file này vào crontab:
sudo crontab -e

- Thêm dòng sau vào crontab:
0 * * * * /home/cacheclear.sh

Lưu file

Sai khi bạn hoàn tất, script cacheclear.sh sẽ chạy mỗi giờ một lần để xóa caches trên hệ thống để giải phóng free RAM.



Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

How best to change the date format when Domino server runs as a Windows service

Question

How do I modify the date format for a Domino 8.5x or earlier server when running as a Windows service?

Cause

Domino server takes its date format from the effective Windows user profile settings. However when running Domino as a Windows service, the default effective user is "Local System", which cannot easily be configured via the Windows Control Panel.

Answer

Previous technotes have recommended manually editing the Windows registry which can be risky. Using the following technique, a Domino administrator can invoke the Windows Control Panel to easily edit Regional and Language Options from the Domino console even if it is running as a service under the Local System account.
The properties of the Domino service must be set to 'Allow service to interact with desktop', if it is not already set.

The following cannot be performed from the Domino Remote Console, instead these commands must be issued from the Domino server console on the Windows desktop of the host machine.

(from the Domino server console prompt)
>LOAD CMD.EXE
INTL.CPL
[follow the 'Customize' button to modify date format, then 'Apply' changes]
>EXIT
(resumes the Domino server console prompt).

Restart the Domino server to ensure that all changes take effect. Any applied changes are persistent and effective only for the user profile which runs the Domino service.

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2017

[Linux] Hướng dẫn cấu hình bonding interface network trên CentOS/RHEL 6/7

Linux cho phép quản trị viên cấu hình bonding interface từ 2 đến nhiều interface vật lý kết hợp lại thành 1 interface ảo có tên là ‘bonding interface‘ bằng cách sử dụng module kernel ‘bonding’ trên Linux. Điều này sẽ giúp cho 2 hoặc nhiều network interface hoạt động như 1 card mạng interface cũng như các lợi ích mà tính năng ‘bonding‘ mang đến như : tăng bandwidth, tăng tính dự phòng card mạng network, cân bằng tải mức cơ bản ở tầng network server,…
Nói sơ qua 1 ví dụ là bạn có thể sử dụng cơ chế dự phòng card mạng với ‘bonding interface‘ thì khi 1 card mạng NIC vật lý chết hoặc bị tháo dây mạng thì, ‘bonding interface‘ card mạng sẽ tự động chuyển đổi hoạt động network sang card mạng còn lại.
Trong bài viết này mình sẽ demo với ví dụ các thành phần như sau : – Sử dụng 2 card mạng ‘eth0‘ và ‘eth1‘ tương ứng server phải có 2 card mạng vật lý, nhóm lại thành 1 card mạng ảo ‘bonding‘ là ‘bond0‘. – Sử dụng cơ chế mode ‘active-backup‘ để chạy cơ chế dự phòng card mạng.
Giờ thì chúng ta cùng đến nội dung hướng dẫn cấu hình tạo card mạng ảo bonding trên Linux.

1. Cài đặt module ‘bonding’

– Bạn cần kiểm tra xem trên hệ thống Linux đã load module ‘bonding’ cho tính năng ‘bonding’ interface hay chưa, mặc định là chưa được load ? Bạn có thể đọc thêm bài viết này : Hướng dẫn liệt kê thông tin các module kernel driver trên Linux
  – Nếu chưa thì bạn cần kích hoạt như sau.
  – Cấu hình để load module ‘bonding’ khi hệ thống khởi động lại. Bạn cần tạo 1 file ‘bonding.conf’ nằm trong thư mục ‘/etc/modprobe.d’ (RHEL/CentOS từ 6.3 trở lên).
  Lưu ý: – Nếu mới chỉ tạo 1 bonding interface ‘bond0’ thì cấu hình 1 dòng alias như trên.

2. Cấu hình bonding interface network

2.1 Khởi tạo cấu hình ‘bonding interface’ MASTER

– Để khởi tạo được cổng bonding interface, bạn cần tạo 1 file cấu hình có cú pháp ‘ifcfg-bondX‘ với X là số thứ tự của cổng interface bonding này. – Nội dung cấu hình của file ‘ifcfg-bondX‘ vẫn dựa trên thông tin cấu hình 1 card mạng network bình thường. Điều quan trọng là bạn sẽ có thêm 2 cấu hình gồm : ‘TYPE=Bond‘ và ‘BONDING_MASTER=yes‘. – Cơ chế chạy bonding interface sẽ là ‘active-backup‘ 1 card mạng hoạt động và 1 card mạng dự phòng trong trường hợp card mạng 1 chết hoặc có vấn đề.
– Không cấu hình 2 giá trị ‘NETWORK‘ và ‘BROADCAST‘ trong file cấu hình card mạng ‘bond0’ nếu bạn muốn cấu hình default gateway. – “BONDING_OPTS” có thể cài giá trị sau: BONDING_OPTS=”miimon=100 mode=1″ – mode của bonding interface có thể là 1 trong các lựa chọn sau:
+ mode = 0: balance-rr + mode = 1: active – backup + mode = 2: balance – xor + mode = 3: broadcast + mode = 4: 802.3ad + mode = 5: balance – tlb + mode = 6: balance – alb + miimon: là giá trị tính bằng milisecond (ms) chỉ thời gian giám sát MII của NIC.

  2.2 Cấu hình card mạng ‘SLAVE’

– Sau khi cấu hình cổng ‘bonding interface‘ xong thì cổng bonding đó sẽ được coi là MASTER (chính) và các cổng interface khác được gom tham gia vào hoạt động bond interface sẽ được coi là các SLAVE (phụ). Lúc này ta cần lưu ý khi cấu hình các cổng interface chính đang có trong hệ thống phải thêm 2 giá trị ‘MASTER‘ và ‘SLAVE‘ để chỉ rõ vai trò thuộc tính của các interface này trong quá trình tham gia hoạt động bonding.
– Kế đến chúng ta sẽ cấu hình cho 2 card interface tham gia vào card interface bonding ví dụ là eth0 và eth1. Nội dung file cấu hình eth0 và eth1 như sau :
  Chú ý : – slave = yes và master = bond0

3. Khởi động card bond0

– Bây giờ ta sẽ tiến hành khởi động lại dịch vụ mạng để up các card mạng cùng card bond0 mới cấu hình lên. Trong một số trường hợp bạn cần khởi động lại hệ thống để có thể hoạt động các cổng interface đã cấu hình.
  – Với output lệnh trên, bạn sẽ thấy card interface NIC eth0 và eth1 sẽ có cờ ‘SLAVE‘ và card interface bond0 sẽ có cờ ‘MASTER‘.
– Để theo dõi hoạt động trạng thái của card interface ‘bond0‘ thì bạn có thể đọc nội dung file hệ thống sau.

4. Một số lưu ý khác

– Để kiểm xác cơ chế hoạt động bonding, thì hãy xem nội dung file sau :
  – Để kiểm tra có bao nhiêu card interface ‘bonding‘ đang hoạt động trên hệ thống.
  – Kiểm tra xem hoạt động có đúng chức năng backup card mạng không, thì bạn cứ rút 1 dây mạng ra và quan sát Linux có tự động chuyển đổi NIC từ eth0 sang eth1 để chạy dự phòng hay không. Log hoạt động này sẽ được ghi lại trong file ‘/var/log/messages
Nội dung bài viết đến đây là dừng rồi. Hy vọng các bạn thấy bài viết hữu ích.